VNDC

thông tin liên hệ
Trụ sở chính
Chúng tôi thường phản hồi trong vòng 24 giờ. Ngoài ra, bạn có thể gọi đến văn phòng của chúng tôi.

Tầng 08, Tòa nhà Pearl Plaza, Số 561A Điện Biên Phủ, P. 25, Q. Bình Thạnh, TP. HCM

info@vndc.com.vn

Đặc tả thiết bị đo trong giai đoạn thiết kế cơ sở

Trong phần lớn hồ sơ thiết kế nhà máy mà đơn vị chúng tôi có dịp thẩm tra hoặc kế thừa, kể cả hồ sơ do những đơn vị có kinh nghiệm thực hiện, hạng mục thiết bị đo lường được mô tả ở mức chức năng: một cảm biến chênh áp phục vụ khu vực phòng sạch, một cảm biến nhiệt độ bố trí trên đường ống gió, một đồng hồ lưu lượng trên tuyến nước cấp. Việc xác định model cụ thể được chuyển sang giai đoạn thi công và giao cho nhà thầu cơ điện thực hiện, thường là cùng thời điểm với công tác mua sắm vật tư. Cách phân công này có cơ sở hợp lý của nó và đã trở thành thông lệ tới mức ít khi được đưa ra xem xét lại. Tuy vậy, trên cơ sở các dự án mà đơn vị chúng tôi đã tham gia, chúng tôi cho rằng cần đặt lại vấn đề, bởi trong số những nội dung được phép trì hoãn tới giai đoạn thi công, nội dung liên quan tới thiết bị đo lường là nội dung phát sinh chi phí lớn nhất khi bị trì hoãn.

1. Ba thông số mang tính kiến trúc, không mang tính mua sắm

Nguyên nhân nằm ở chỗ ba thông số cơ bản của một thiết bị đo, gồm loại ngõ ra, dải đo và giao thức truyền thông, không thuộc nhóm đặc tính thương mại của hàng hoá mà thuộc nhóm quyết định về kiến trúc hệ thống. Loại ngõ ra chi phối toàn bộ phần đấu nối: một thiết bị sử dụng tín hiệu dòng và một thiết bị sử dụng tín hiệu điện áp không tương đương nhau về chiều dài tuyến cáp cho phép, về khả năng chống nhiễu trong điều kiện đi song song với tuyến cáp động lực, cũng như về chủng loại module đầu vào cần trang bị trong tủ điều khiển. Khi thông số này được xác định ngay tại bước thiết kế cơ sở, số lượng module, tiết diện cáp và phương án tuyến máng được tính toán đồng bộ với nhau. Khi thông số này chỉ được xác định ở giai đoạn thi công, một trong ba nội dung nêu trên buộc phải điều chỉnh, và trên thực tế nội dung được điều chỉnh thường là nội dung dễ điều chỉnh nhất chứ không phải nội dung phù hợp nhất.

Dải đo là thông số thuộc về công tác tính toán chứ không thuộc về công tác mua sắm. Giá trị này được suy ra từ lưu lượng thiết kế, từ cấp sạch của khu vực, từ chênh lệch áp suất giữa các không gian, tức là từ các số liệu chỉ hiện diện trong hồ sơ tính toán của đơn vị thiết kế. Cán bộ thực hiện việc lựa chọn model tại công trường, dù có kinh nghiệm đến đâu, cũng không tiếp cận được bộ số liệu này, và do đó sẽ lựa chọn theo những tiêu chí phù hợp với thông tin mà họ có: đường kính ống hiện hữu, tình trạng sẵn hàng của nhà cung cấp, hoặc model đã được sử dụng ở công trình trước đó. Cả ba tiêu chí này đều hợp lý trong bối cảnh của người thực hiện, và cả ba đều không phải tiêu chí kỹ thuật đúng.

Giao thức truyền thông là thông số khó điều chỉnh nhất sau khi công trình đã hình thành. Trong trường hợp mỗi nhà thầu phụ lựa chọn theo thói quen riêng, một nhà máy hoàn toàn có thể kết thúc với bốn đến năm giao thức khác nhau cùng tồn tại trên một hệ giám sát, mỗi giao thức kéo theo một bộ chuyển đổi, một phần mềm quản lý và về lâu dài là một hợp đồng bảo trì riêng biệt. Các khoản chi phí này không xuất hiện trên bảng so sánh giá dự thầu, do chúng chỉ phát sinh sau thời điểm bàn giao công trình.

2. Chi phí thực tế không nằm ở giá mua thiết bị

Cần lưu ý rằng phần chênh lệch về giá mua giữa một thiết bị được lựa chọn phù hợp và một thiết bị được lựa chọn tạm thời thường không đáng kể trong tổng mức đầu tư. Chi phí thực tế nằm ở những nội dung khác: thời gian chờ khi phát hiện tủ điều khiển chưa được trang bị module tương thích, khối lượng công việc phát sinh khi phải bố trí lại tuyến cáp do chiều dài vượt quá giới hạn của loại tín hiệu đã lựa chọn, công tác giải trình khi giá trị đo được nằm ngoài dải mà hồ sơ tính toán giả định, và toàn bộ chi phí vận hành trong vòng đời công trình khi đơn vị quản lý phải làm việc với một tập hợp thiết bị không đồng nhất mà nguyên nhân hình thành đã không còn được ghi nhận ở đâu. Trong điều kiện các hạng mục của một dự án nhà máy được triển khai song song, khoảng thời gian từ lúc phát hiện vấn đề tới lúc xử lý xong luôn dài hơn dự kiến, và khoảng thời gian đó thường rơi vào giai đoạn tiến độ đã ở mức căng thẳng nhất.

3. Yếu tố thời gian cung ứng

Một nội dung nữa cần được tính tới là tính ổn định của thời gian cung ứng đối với các chủng loại thiết bị đo chuyên dụng, vốn đã thay đổi đáng kể trong những năm gần đây. Trường hợp một model được ghi cố định trong hồ sơ thiết kế, nếu tới thời điểm mua sắm mới xác định được thời gian chờ vượt quá tiến độ cho phép, dự án sẽ rơi vào tình thế phải lựa chọn trong điều kiện gấp. Việc lựa chọn trong điều kiện gấp thường dẫn tới việc bỏ qua các thông số đã được tính toán, do tiêu chí chi phối tại thời điểm đó là khả năng cung ứng chứ không phải mức độ phù hợp về kỹ thuật. Cần nhấn mạnh rằng việc hoàn thành đặc tả sớm không đồng nghĩa với việc khoá cứng phương án. Ngược lại, chỉ khi đặc tả được hoàn thành sớm thì mới có đủ thời gian chuẩn bị phương án thay thế tương đương, tức là xác định trước những model của các nhà sản xuất khác có cùng dải đo, cùng loại ngõ ra, cùng cấp bảo vệ và cùng phương thức lắp đặt, để khi cần thay đổi thì không phải thực hiện lại công tác tính toán từ đầu. Công tác rà soát tương đương này đòi hỏi năng lực nắm bắt đồng thời nhiều dòng sản phẩm của nhiều nhà sản xuất, và theo quan điểm của đơn vị chúng tôi, nó cần được thực hiện tại bàn thiết kế chứ không phải tại công trường vào những tuần cuối của dự án.

4. Về ý kiến phản biện thường gặp

Ý kiến phản biện phổ biến nhất đối với quan điểm nêu trên là việc hoàn thành đặc tả sớm sẽ làm giảm tính cạnh tranh về giá và hạn chế tính linh hoạt của nhà thầu trong quá trình triển khai. Đơn vị chúng tôi cho rằng đây là một ý kiến xác đáng, và nó xác đáng bởi vì nó đang phản đối một cách làm mà chính đơn vị chúng tôi cũng không ủng hộ. Việc ghi cố định mã hàng của một nhà sản xuất cụ thể vào hồ sơ thiết kế đúng là làm thu hẹp thị trường cung ứng và tạo ra rủi ro về nguồn hàng, tuy nhiên đó không phải là nội dung được đề xuất ở đây. Nội dung cần được hoàn thành ở giai đoạn thiết kế cơ sở là bộ thông số kỹ thuật, không phải danh tính nhà cung cấp: dải đo và cấp chính xác yêu cầu, loại ngõ ra, giao thức truyền thông, cấp bảo vệ, phương thức lắp đặt và các điều kiện lắp đặt kèm theo, trong khi trường thông tin về thương hiệu được để trống. Với cách làm này, nhà thầu vẫn giữ nguyên toàn bộ không gian cạnh tranh về giá cũng như về nguồn cung ứng, chỉ khác ở chỗ việc cạnh tranh diễn ra trong một bộ ràng buộc kỹ thuật đã được tính toán, thay vì để chính nhà thầu tự hình thành ràng buộc trong điều kiện thời gian không còn cho phép cân nhắc.

5. Cách tổ chức công việc

Trong quy trình mà đơn vị chúng tôi áp dụng, nội dung đặc tả thiết bị đo được thực hiện đồng thời với thiết kế cơ sở, không chuyển sang bước lập bản vẽ thi công. Ở bước này, phạm vi các câu hỏi cần được trả lời còn tương đối đơn giản, gồm bốn nội dung: mỗi điểm đo phục vụ mục đích gì trong dây chuyền, giá trị làm việc dự kiến nằm trong khoảng nào, tín hiệu được truyền về đâu và bộ phận nào là bộ phận sử dụng số liệu. Bốn nội dung này có thể được xử lý trong một buổi làm việc nếu có mặt đầy đủ các bên liên quan, và yêu cầu bắt buộc là buổi làm việc đó phải có cả người nắm hồ sơ tính toán lẫn người nắm thông tin về thị trường thiết bị. Đây là lý do trong các dự án gần đây, đơn vị chúng tôi có mời một đơn vị chuyên trách về đo lường tham gia ngay từ giai đoạn này, cụ thể là Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ DLK, thay vì để nội dung liên quan tới thiết bị chỉ bắt đầu được xem xét tại khâu mua sắm.

Kết luận

Nội dung lâu nay được trì hoãn sang giai đoạn thi công thực chất bao gồm hai phần khác nhau về bản chất: phần quyết định mua sắm và phần công tác tính toán. Việc trì hoãn phần quyết định mua sắm là hợp lý và cần thiết để bảo đảm tính cạnh tranh. Việc trì hoãn phần công tác tính toán thì không, bởi nó chuyển một khối lượng công việc đáng lẽ được xử lý trong một buổi tại bàn thiết kế sang thành một khối lượng công việc phải xử lý trong nhiều tuần tại công trường, vào đúng giai đoạn mà dự án có ít dư địa nhất để hấp thụ phát sinh.

Ghi chú

Quan điểm nêu trong bài phản ánh cách tổ chức công việc mà đơn vị chúng tôi áp dụng đối với các dự án nhà máy công nghiệp, không mang tính chất quy định bắt buộc. Đối với từng dự án cụ thể, phạm vi và thời điểm hoàn thành đặc tả thiết bị vẫn cần được xác định phù hợp với hình thức hợp đồng và phương án phân chia gói thầu đã thống nhất với chủ đầu tư.


Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ DLK

https://dlk.com.vn/gioi-thieu